Cần bảo đảm tính bao quát, tránh đùn đẩy trách nhiệm
Sáng 4/2, Ban Nghiên cứu xây dựng và Phổ biến pháp luật (Hội Luật gia Việt Nam) tổ chức tọa đàm góp ý Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Dự thảo trên do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo gồm 6 Chương, 19 Điều.
Phát biểu tại tọa đàm, ông Nguyễn Văn Huệ – Trưởng Ban Nghiên cứu xây dựng và Phổ biến pháp luật cho biết, trong khoảng 20 năm qua, Việt Nam đã đối mặt hơn 30 vụ tranh chấp đầu tư quốc tế, trong đó có trên 20 vụ kiện chính thức. Trong bối cảnh Việt Nam đã ký kết 64 hiệp định khuyến khích, bảo hộ đầu tư và thu hút lượng lớn vốn FDI, nguy cơ phát sinh tranh chấp ngày càng lớn.
Theo ông Huệ, khả năng phản ứng của một số cơ quan, đặc biệt tại địa phương, còn hạn chế, lúng túng trong tham mưu xử lý vướng mắc, khiến nhà đầu tư khởi kiện. Quyết định số 14/2020 của Thủ tướng Chính phủ hiện đã bộc lộ một số bất cập, cần được điều chỉnh phù hợp yêu cầu mới. Do đó, việc ban hành Nghị quyết là cần thiết và kịp thời.

Ông Nguyễn Văn Huệ – Trưởng ban Ban Nghiên cứu xây dựng và Phổ biến pháp luật thông tin tại tọa đàm.
Về nguyên tắc phối hợp trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, ông Huệ đề nghị cần rà soát để bảo đảm đẩy đủ, kỹ hơn, trong đó cần bổ sung 2 nguyên tắc quan trọng là: Thực hiện triệt để các biện pháp phòng ngừa để phát hiện, ngăn chặn sớm các rủi ro có nguy cơ dẫn đến tranh chấp đầu tư quốc tế; Ưu tiên áp dụng phương thức hòa giải khi có xảy ra tranh chấp.
Đối với cơ chế phối hợp và xác định cơ quan chủ trì, thực tế vẫn tồn tại tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi tranh chấp liên quan nhiều bên. Dự thảo hiện quy định còn chung chung, dễ dẫn đến việc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Vì vậy, cần xây dựng tiêu chí kỹ thuật và thứ tự ưu tiên rõ ràng để các cơ quan tự xác định đơn vị chủ trì, chỉ trình Thủ tướng khi thực sự cần thiết.
Tại Điều 5, đề nghị định lượng rõ khái niệm "tranh chấp có giá trị đặc biệt lớn" làm căn cứ thành lập Ban chỉ đạo, đồng thời bổ sung tiêu chí về mức độ phức tạp, yếu tố an ninh hoặc tính nhạy cảm của vụ việc, thay vì chỉ căn cứ vào giá trị kinh tế.

Các chuyên gia tham dự tọa đàm.
Đối với Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (Điều 15), cần tách bạch nguồn thu ngân sách với nguồn thu dịch vụ để bảo đảm minh bạch tài chính.
Liên quan cơ chế tài chính tại Điều 16, các chuyên gia cho rằng cần làm rõ khái niệm "nguồn thu từ tranh chấp đầu tư quốc tế", bởi trên thực tế Nhà nước thường ở vị thế bị kiện nên khoản "thu" chủ yếu là tránh nghĩa vụ bồi thường.
Việc trích 5% từ nguồn thu này để đào tạo nhân lực tiềm ẩn rủi ro thiếu kinh phí nếu không phát sinh nguồn thu. Do đó, cần điều chỉnh theo hướng bố trí kinh phí đào tạo từ dự toán ngân sách.
Kiến nghị rà soát định kỳ các dự án lớn và thu hút nhân tài
Các chuyên gia tham dự tọa đàm đánh giá việc dự thảo xác định Bộ Tư pháp là cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ là phù hợp. Tuy nhiên, cần làm rõ cơ chế chỉ định cơ quan chủ trì của Ban chỉ đạo liên ngành đối với các vụ việc có giá trị đặc biệt lớn.
Tại Điều 5, một số ý kiến đề nghị làm rõ trách nhiệm của TAND Tối cao và VKSND Tối cao khi tham gia Ban chỉ đạo liên ngành nhằm bảo đảm xử lý hiệu quả các tranh chấp phát sinh từ hoạt động tố tụng.
Về phòng ngừa tranh chấp, dự thảo đã đề cập cơ chế đánh giá nguy cơ dựa trên rủi ro. Tuy nhiên, các chuyên gia đề nghị bổ sung quy định rà soát định kỳ các hợp đồng, dự án quy mô lớn như BOT, BT nhằm phát hiện sớm điều khoản tiềm ẩn nguy cơ kiện tụng.



PGS.TS Đinh Dũng Sĩ (trên cùng); ông Trần Đức Long (ảnh trái) và ông Võ Văn Tuyển - các chuyên gia thuộc Ban Nghiên cứu xây dựng và Phổ biến pháp luật (Hội Luật gia Việt Nam) tham gia đóng góp ý kiến tại tọa đàm.
Đối với vai trò của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, cần bổ sung quyền chủ động tiếp cận thông tin từ địa phương khi phát hiện dấu hiệu rủi ro để nâng cao hiệu quả xử lý sớm.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh hiệu quả giải quyết tranh chấp phụ thuộc lớn vào chất lượng và tốc độ cung cấp hồ sơ từ địa phương. Vì vậy, cần quy định rõ thẩm quyền của Bộ Tư pháp trong việc yêu cầu cung cấp hồ sơ, kể cả hồ sơ mật, với thời hạn không quá 5 ngày làm việc.
Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định trách nhiệm của người đứng đầu bộ, ngành, địa phương nếu chậm trễ hoặc cung cấp thông tin sai lệch dẫn đến thua kiện, đồng thời áp dụng cơ chế bồi hoàn theo quy định của pháp luật nhằm tăng tính ràng buộc trách nhiệm.
Về chính sách thu hút nhân lực, ông Trần Đức Long (Ban Nghiên cứu xây dựng và Phổ biến pháp luật) cho rằng cần xây dựng cơ chế thù lao theo giờ hoặc theo vụ việc, tiệm cận mức thị trường luật sư trong nước và quốc tế. Đồng thời, nên cho phép biệt phái hoặc thuê chuyên gia, luật sư từ khu vực tư nhân và tổ chức quốc tế tham gia hoạt động của Trung tâm.
Ngoài ra, cần quy định nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với cán bộ trực tiếp tham gia thương lượng, hòa giải nếu thực hiện đúng quy trình, nhằm tháo gỡ tâm lý e ngại, giúp họ chủ động, quyết đoán trong xử lý các vụ việc phức tạp.








