
Hầm đèo Ngang xuyên qua Hoành Sơn quan - Ảnh: THÁI LỘC
"Trong lịch sử Việt Nam hiếm có một dãy núi nào gắn với vận mệnh chính trị của một triều đại sâu sắc như Hoành Sơn. Câu sấm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" không chỉ mang ý nghĩa tiên tri mà còn phản ánh tầm nhìn địa chính trị sắc sảo về vùng đất Thuận Quảng", TS Trần Đình Hằng, phân viện trưởng Phân viện Văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch miền Trung, nhận định về vai trò của dãy Hoành Sơn đối với thời chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn như thế.
"Vạn đại dung thân" - mật mã địa chính trị thay đổi dòng tộc
Năm 1545, sau khi danh tướng Nguyễn Kim bị ám hại, chính sự triều Lê (Trung Hưng) lọt vào tay chúa Trịnh Kiểm.
Trong bầu không khí nghẹt thở của những cuộc thanh trừng, người con trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông được cho đã bị sát hại, đẩy người em là Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào thế vô cùng hiểm nguy.
Chuyện xưa kể rằng giữa cơn bĩ cực, Nguyễn Hoàng đã ngầm sai người tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm hỏi kế sách. Sách Đại Nam thực lục phần tiền biên, ghi: "Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi.
Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (nghĩa là: Một dãy núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý!".
Hiểu được mật ý, Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Bảo thuyết phục người chồng Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa - vùng đất lúc bấy giờ được coi là "Ô Châu ác địa".
Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng dẫn đoàn quân vượt đèo Ngang vào Nam, ông đã chính thức biến dãy núi này từ ranh giới địa lý thành bệ phóng cho một vận hội mới. Hoành Sơn từ đó không chỉ là núi, mà là biểu tượng của sự sinh tồn và khát vọng vươn mình của dòng họ Nguyễn.
Trở lại lời sấm của bậc hiền triết, nó không đơn thuần là một lời khuyên lánh nạn, mà là một phép giải mật mã địa lý chiến lược. Hoành Sơn - dãy núi granit đâm ngang ra biển - chính là bức tường thành tự nhiên, một vùng trời riêng, là "điểm tựa địa chính trị" lý tưởng để xây dựng cơ nghiệp nhiều đời.
TS Phan Tiến Dũng, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử TP Huế, nhận định lời sấm Trạng Trình "là thông điệp chính trị sâu sắc mang tính dự báo chiến lược của nhà trí thức Bắc Hà vào giai đoạn đó. Xét trong tiến trình lịch sử, đã phần nào được kiểm chứng qua sự nghiệp mở cõi và xây dựng chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong".
Những cuộc giao tranh đẫm máu
Sự trỗi dậy của họ Nguyễn đã kéo theo hơn trăm năm nội chiến Trịnh - Nguyễn. Đèo Ngang, với vị thế "yết hầu" trên con đường thiên lý, đã trở thành một "tọa độ lửa" thực sự. Sử liệu ghi nhận, khu vực này thường xuyên là nơi đối đầu, lúc thì quân Trịnh, lúc quân Nguyễn chiếm giữ.
Nhiều nhà chuyên môn đặc biệt chú ý đến các dấu tích mà các thư tịch cổ có nhắc đến: lũy Ông Ninh, Ông Nang mà ngày nay thường gọi là lũy Kỳ Anh nằm ở phía tây nam của dãy Hoành Sơn. Hệ thống lũy này được ghi chép do Ninh Quận công Trịnh Toàn cho đắp nhằm ngăn chặn quân chúa Nguyễn tấn công ra Bắc.
Kết quả đợt khảo sát thực địa năm 2012, các nhà chuyên môn xác định lũy Kỳ Anh là hệ thống phòng thủ quân sự quan trọng do chúa Trịnh xây dựng vào thế kỷ 17 trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Hệ thống gồm ba tuyến, một lũy đất, hai lũy đá.
Cuộc khai quật khảo cổ tại khu vực "Đấu Đong Quân", xã Kỳ Lạc cho thấy tường lũy đá được xây dựng tỉ mỉ, có các lỗ vuông xuyên thân lũy được đoán định vừa để thoát nước, vừa làm lỗ hỏa mai tác chiến. Nền lũy được xử lý kỹ bằng đất đồi nện chặt và lát đá phiến lớn để chống xói mòn.
Tại xã Kỳ Hoa, dấu tích lũy đá dài khoảng 200m, được coi là tuyến phòng thủ thứ ba với hào sâu phía nam nhằm cản trở đối phương.
Cuộc khảo sát còn phát hiện dấu tích kiến trúc tại đền Cây Da Đồn với các phiến đá chân tảng (đỡ cột nhà) và hiện vật gốm sứ khoảng thế kỷ 17. Các nhà chuyên môn xác định bước đầu đây là điểm tâm linh quan trọng trên con đường huyết mạch Bắc - Nam xưa.
Lần theo sử sách, giai đoạn 1655 - 1660, khu vực phía đông lẫn phía tây nam Hoành Sơn từng chứng kiến những cuộc giao tranh ác liệt nhất. Quân Nguyễn dưới sự chỉ huy của các hổ tướng như Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đã nhiều lần vượt đèo đánh chiếm vùng Kỳ Hoa, nam Hà Tĩnh ngày nay.
Những cái tên như dinh Hà Trung, đồn Chợ Ròn hay núi Thần Đầu đã thấm đẫm máu của binh sĩ hai miền.
Có những trận đánh, quân Nguyễn phải dùng kế "điệu hổ ly sơn", giả vờ rút quân về sông Gianh để dụ quân Trịnh tiến vào túi trận trên đỉnh đèo Ngang. Đèo Ngang lúc ấy không còn vẻ trữ tình như trong thơ Bà Huyện Thanh Quan sau này, mà là một vùng đất triền miên binh đao máu lửa.

Trong lịch sử, ải Hoành Sơn quan chính là “cửa ngõ” phía bắc của vùng kinh đô triều Nguyễn - Ảnh tư liệu
Di huấn giữ đất từ dãy núi thiêng
Trong tâm thức của các chúa Nguyễn, Hoành Sơn luôn chiếm giữ một vị trí thiêng liêng. Năm 1613, trước khi qua đời, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã di huấn cho con trai Nguyễn Phúc Nguyên bài học về quản trị và bảo vệ lãnh thổ mang tầm nhìn chiến lược viễn kiến.
Sách Đại Nam thực lục ghi lời di huấn của chúa Tiên: "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi sơn] vững bền.
Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta".
Tư duy này xem Hoành Sơn không phải là điểm kết thúc, mà là "lá chắn phía bắc" vững chắc nhất để bảo vệ thủ phủ Đàng Trong từ xa. Các đời chúa Nguyễn sau đó luôn khắc cốt ghi tâm lời dặn này, coi việc giữ bằng được đèo Ngang và sông Gianh là điều kiện sinh tử để duy trì và phát triển cơ nghiệp.
TS Trần Đình Hằng nhận định về giá trị quân sự của dãy Hoành Sơn rằng: "Đối với chính quyền Đàng Trong, đây là tuyến án ngữ quan trọng khống chế con đường từ Bắc Hà tiến vào Thuận Hóa. Dãy núi chắn ngang ra biển, kết hợp với hệ thống sông Gianh và địa hình hiểm yếu của đèo Ngang, tạo nên một phòng tuyến tự nhiên có giá trị chiến lược đặc biệt.
Tuy trong thực tế chiến tuyến chính thời Trịnh - Nguyễn thường tập trung ở khu vực sông Gianh và lũy Thầy, nhưng Hoành Sơn vẫn giữ vai trò như tuyến phòng thủ chiều sâu, vừa quan sát, cảnh giới, vừa kiểm soát các tuyến giao thông Bắc - Nam.
Điều đó lý giải vì sao trong các nguồn sử liệu thời Nguyễn, Hoành Sơn luôn được nhắc đến như một vị trí hiểm yếu cần đặc biệt lưu tâm"...
"Từ lời tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến lời căn dặn trước lúc lâm chung của Chúa Nguyễn Hoàng, thêm một lần nữa khẳng định vị trí hiểm yếu và tầm quan trọng của vùng đất từ phía nam núi Hoành Sơn đến phía bắc núi Hải Vân, có ý nghĩa quyết định tương lai, vận mệnh và sự hưng thịnh của dòng tộc chúa Nguyễn.
Do đó, các thế hệ hậu thế của Chúa Nguyễn Hoàng đã quyết tâm giữ cho bằng được vùng đất này trong bất luận hoàn cảnh nào. Chính vì vậy, nhà Nguyễn đã làm nên nghiệp lớn khi lập nên triều đại tồn tại 13 đời vua, kéo dài suốt 143 năm (1802 - 1945)", Phạm Thị Anh Đào, Trưởng phòng Nghiệp vụ di tích Bảo tàng Quảng Trị.
--------------------------
Kỳ tới: "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" phía Bắc








