
Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo nhấn mạnh, phát triển công nghệ chiến lược là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là vấn đề chiến lược quốc gia, liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ công nghệ và vị thế của đất nước trong giai đoạn mới.
Mặc dù, đến nay đã ban hành danh mục 11 nhóm và 35 sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời lựa chọn 6 sản phẩm ưu tiên làm ngay, nhưng khâu tổ chức thực hiện vẫn còn lúng túng, chưa tạo được chuyển biến thực chất, chưa có sản phẩm công nghệ chiến lược nào được triển khai bài bản, gắn chặt với yêu cầu của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp tạo ra giá trị hiện hữu và đóng góp rõ nét vào phát triển kinh tế.
Thường trực Ban Chỉ đạo thẳng thắn nhìn nhận 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là:
Thứ nhất, việc xác định một số công nghệ chiến lược chưa thực sự gắn với cấu trúc công nghiệp và nhu cầu phát triển của nền kinh tế, cũng như tiềm năng và lợi thế của Việt Nam.
Thứ hai, cơ chế tổ chức thực thi chưa rõ đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt, thiếu sự điều phối liên ngành đủ mạnh.
Thứ ba, vai trò của doanh nghiệp và thị trường trong phát triển công nghệ chiến lược chưa được phát huy đầy đủ. Thực trạng trên, cùng với sự phát triển rất nhanh của công nghệ toàn cầu, đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay đổi mạnh mẽ tư duy và cách làm.
Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt 6 định hướng lớn.
Thứ nhất, mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế và lợi ích lâu dài của quốc gia, đó là nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, hình thành các ngành công nghiệp mới và bảo đảm tự chủ về công nghệ trong những lĩnh vực then chốt. Việc xác định công nghệ chiến lược cần dựa trên 3 yếu tố cơ bản: Nhu cầu phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Lợi thế, tiềm năng của các ngành công nghiệp trong nước. Khả năng hình thành chuỗi giá trị và thị trường cho sản phẩm công nghệ.
Thứ hai, xác định danh mục công nghệ chiến lược theo 2 nhóm: Nhóm các công nghệ đã có thị trường, có thể tạo ra tác động lớn và trực tiếp đến phát triển kinh tế như: nông-lâm-thủy sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, xây dựng, thép, năng lượng... Định hướng yêu cầu doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt đầu tư; Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo thị trường thông qua chính sách mua sắm công và ban hành các gói hỗ trợ phù hợp; các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học tham gia nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực.
Nhóm các công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng (như: Công nghệ lượng tử, công nghệ tên lửa, lò phản ứng hạt nhân nhỏ, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế độ cao/không gian tầm thấp, vệ tinh nhỏ, UAV...): Nhà nước chủ động đầu tư, đặt hàng (mua sản phẩm hoặc nghiên cứu) và dẫn dắt; doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo tham gia phối hợp triển khai.
Thứ ba, các cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân, đưa các doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ. Trong đó, Nhà nước tập trung thực hiện 4 vai trò: Định hướng chiến lược. Tạo môi trường thể chế thuận lợi. Đặt hàng và hỗ trợ nghiên cứu phát triển công nghệ. Hỗ trợ thương mại hóa, mở rộng thị trường, đóng vai là "người mua đầu tiên" đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Thứ tư, tập trung nguồn lực cho một số lĩnh vực thật sự trọng điểm, kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí. Phải lựa chọn đúng các công nghệ có ý nghĩa chiến lược để đầu tư theo nguyên tắc: Chọn lọc tinh gọn, nhưng triển khai quyết liệt, chuyên sâu, đầu tư bài bản, đủ lớn để ra sản phẩm cuối cùng.
Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức thực hiện và xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu. Đối với từng công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, phải xác định rõ trách nhiệm bộ, cơ quan chủ trì, phối hợp và nguồn lực tương ứng; đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện trước Đảng, Nhà nước. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối tham mưu, thẩm định, hướng dẫn, điều phối, theo dõi, tổng hợp chung, nhưng không làm thay chức năng, nhiệm vụ của các bộ ngành. Thiết lập đầu mối điều phối liên ngành ở cấp Trung ương đủ thẩm quyền để tháo gỡ các vướng mắc kịp thời, bảo đảm khâu thực thi thông suốt.
Thứ sáu, đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo đó, công tác đào tạo và thu hút nhân lực phải đi trước một bước để sớm hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học và nhà quản trị giỏi, có thể làm chủ các công nghệ chiến lược. Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; tập trung hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nguồn từ viện, trường. Yêu cầu khẩn trương hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo đủ mạnh, đủ mở, đủ linh hoạt để kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu với thị trường.
Minh Phương








