
Sử dụng xe điện góp phần giảm khí thải CO2 và thúc đẩy phát triển giao thông xanh - Ảnh: HỮU HẠNH
Thực tiễn cho thấy nhiều quy định đang gặp "độ trễ" về khả năng thích ứng của hạ tầng kỹ thuật đến năng lực thực thi tại địa phương và nhiều bất cập khác cần phải sửa đổi, bổ sung kịp thời.
Tuổi Trẻ đã có cuộc trao đổi với ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), về những điểm mới trong dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10-2026).
Không kịp thời hoàn thiện khung pháp lý, doanh nghiệp Việt sẽ gặp khó

Ông Tăng Thế Cường
* Ông có nhắc đến "thời điểm để sửa đổi, bổ sung luật". Có phải đây chính là "nút thắt" tháo gỡ về thể chế, giảm thủ tục hành chính?
- Luật Bảo vệ môi trường đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số quy định còn chồng chéo với các pháp luật liên quan, một số thủ tục còn phức tạp. Cơ chế phân cấp, phân quyền ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ với năng lực tổ chức thực hiện tại địa phương.
Đồng thời, các yêu cầu mới về chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon hay chuyển đổi số cũng đang đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế để theo kịp thực tiễn phát triển.
Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế hiện nay đã có nhiều thay đổi rất nhanh. Các tiêu chuẩn xanh, yêu cầu về giảm phát thải, truy xuất chuỗi cung ứng hay phát triển kinh tế carbon thấp đang trở thành điều kiện tham gia thị trường toàn cầu. Nếu không kịp thời hoàn thiện khung pháp lý, doanh nghiệp Việt sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Có thể nói việc sửa đổi lần này nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực phát triển. Cụ thể hóa quan điểm xuyên suốt của Đảng - "bảo vệ môi trường không phải là rào cản của phát triển mà là nền tảng để phát triển xanh, bền vững và nâng cao chất lượng sống của người dân".
* Vậy những bất cập của luật sau gần 5 năm có hiệu lực đi vào cuộc sống là gì, thưa ông?
- Mặc dù luật đã có bước tiến lớn về cải cách thủ tục hành chính nhưng việc tổ chức thực hiện tại một số nơi còn gặp khó khăn. Thực tiễn cho thấy một số quy định của luật và các văn bản hướng dẫn chưa thật sự đồng bộ với các pháp luật có liên quan như đầu tư, xây dựng, tài nguyên nước, khoáng sản hay quy hoạch. Doanh nghiệp ở một số trường hợp vẫn phải thực hiện nhiều thủ tục có nội dung giao thoa, dẫn đến kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư và phát sinh chi phí tuân thủ.
Một số địa phương còn lúng túng trong giai đoạn đầu áp dụng quy định mới, đặc biệt đối với công cụ quản lý mới như giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, cơ chế hậu kiểm hay áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường. Cơ chế phân cấp, phân quyền trong một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ với năng lực tổ chức thực hiện ở địa phương.
Một số chính sách mới mang tính đột phá của luật như kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon, tín chỉ carbon hay trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất tuy đã được triển khai nhưng vẫn cần thêm thời gian và cơ chế phù hợp để phát huy đầy đủ hiệu quả trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, áp lực môi trường tiếp tục gia tăng cùng với quá trình phát triển nhanh của nền kinh tế và đô thị hóa. Ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, đặc biệt ở Hà Nội và TP.HCM vẫn diễn biến phức tạp. Ô nhiễm tại một số lưu vực sông chưa được xử lý triệt để, hạ tầng thu gom và xử lý chất thải ở một số địa phương còn thiếu đồng bộ...
Ông TĂNG THẾ CƯỜNG (Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường)
Tôi cho rằng đây là thời điểm phù hợp để sửa đổi luật bởi không chỉ để xử lý kịp thời các bất cập trước mắt mà còn phản ánh sự chuyển đổi căn bản trong mô hình phát triển của Việt Nam từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng xanh, phát thải thấp và bền vững hơn. Bảo vệ môi trường không còn được nhìn nhận chi phí của phát triển mà chính là nền tảng và động lực cho phát triển dài hạn của đất nước.
Chuyển từ "quản lý chất thải" sang "quản lý tài nguyên tuần hoàn"
* Những bất cập trong công tác đánh giá tác động môi trường, quản lý chất thải và hoạt động quan trắc sẽ được đổi mới ra sao, thưa ông?
- Qua giám sát của Quốc hội năm 2025 cho thấy về cơ bản các quy định đánh giá tác động môi trường đang được triển khai ổn định, không phát sinh vướng mắc lớn về mặt chính sách. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số khó khăn như việc xác định đối tượng, phân loại dự án theo tiêu chí môi trường ở một số trường hợp còn phức tạp. Năng lực thẩm định giữa các địa phương chưa đồng đều và thời gian giải quyết ở một số khâu còn kéo dài hơn yêu cầu thực tiễn.
Vì vậy, cần phải sửa đổi theo hướng tiếp tục đơn giản hóa tiêu chí phân loại dự án, cắt giảm thêm đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án nguy cơ thấp. Đẩy mạnh phân cấp cho địa phương và đơn giản hóa quy trình thẩm định theo mức độ rủi ro môi trường của dự án.
Đối với quản lý chất thải, hạ tầng thu gom, phân loại, trung chuyển và xử lý chất thải ở nhiều địa phương còn thiếu đồng bộ, công nghệ xử lý ở một số nơi còn lạc hậu. Việc phân loại rác tại nguồn triển khai chưa đồng đều do phụ thuộc nhiều vào điều kiện hạ tầng và thói quen sinh hoạt của người dân. Thị trường tái chế trong nước vẫn chưa phát triển tương xứng. Việc kết nối giữa thu gom, tái chế và tiêu thụ sản phẩm tái chế chưa hình thành chuỗi ổn định.
Cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR) là chính sách hoàn toàn mới tại Việt Nam nên trong giai đoạn đầu cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp đều cần thêm thời gian để hoàn thiện quy trình thực hiện, cơ chế phối hợp.

Bên trong một nhà máy tái chế rác thải nhựa, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn - Ảnh: PHI VÂN
* Phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn sẽ được quy định như thế nào để phù hợp với thực tiễn?
- Đối với phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, định hướng chuyển từ tư duy "quy định mang tính áp đặt hành chính" sang "tổ chức thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế". Theo đó, sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, giao UBND cấp tỉnh chủ động quyết định lộ trình, phương thức và mô hình phân loại phù hợp với điều kiện hạ tầng, công nghệ xử lý, năng lực quản lý của địa phương.
Một điểm rất quan trọng trong lần sửa đổi này tiếp tục tăng cường cơ chế khuyến khích và ràng buộc trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân trong phân loại chất thải tại nguồn. Phát huy vai trò của cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giám sát và hình thành thói quen tiêu dùng xanh.
Quan điểm xuyên suốt chuyển mạnh từ "quản lý chất thải" sang "quản lý tài nguyên tuần hoàn". Chất thải sau phân loại không còn chỉ được nhìn nhận là đối tượng phải xử lý, mà phải từng bước trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế xanh và kinh tế carbon thấp.
Dự thảo luật đã bổ sung các quy định nhằm xác lập rõ hành lang pháp lý cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải. Quy định cụ thể loại chất thải đủ điều kiện được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho sản xuất. Đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý sản phẩm tái chế để vừa thúc đẩy thị trường tái chế phát triển, vừa kiểm soát chặt nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ giảm lượng chất thải phải chôn lấp, mà còn từng bước hình thành ngành công nghiệp tái chế hiện đại, tạo ra chuỗi giá trị mới từ chất thải, góp phần giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Không chỉ dừng lại giải quyết bài toán rác thải trước mắt mà còn hướng tới mục tiêu dài hạn xây dựng hệ thống quản lý chất thải đồng bộ. Biến chất thải từ gánh nặng môi trường trở thành nguồn tài nguyên cho phát triển bền vững và tăng trưởng xanh của đất nước.
Xây dựng văn hóa môi trường trong toàn xã hội
* Như vậy, mục tiêu lớn nhất của việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10-2026) là gì, thưa ông?
- Trước đây công tác bảo vệ môi trường chủ yếu dựa vào cơ chế kiểm tra, xử phạt và yêu cầu tuân thủ hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nếu chỉ dựa vào cơ quan quản lý thì sẽ không đủ, bởi môi trường liên quan trực tiếp đến từng hành vi nhỏ nhất trong sản xuất, tiêu dùng và sinh hoạt hằng ngày.
Vì vậy, định hướng tạo ra cơ chế để mỗi người dân, doanh nghiệp vừa có trách nhiệm, vừa trở thành chủ thể tham gia bảo vệ môi trường. Việc sửa đổi luật không chỉ dừng lại ở các quy định hành chính hay chế tài xử phạt mà mục tiêu sâu xa xây dựng, phổ cập văn hóa môi trường trong toàn xã hội.
Bịt lỗ hổng trong hoạt động quan trắc môi trường
* Ông có thể chia sẻ thêm về hoạt động quan trắc môi trường, làm sao để bịt lỗ hổng can thiệp, làm sai dữ liệu?
- Riêng đối với hoạt động quan trắc môi trường, hệ thống pháp luật hiện nay về cơ bản đã tương đối đầy đủ và đồng bộ. Tuy nhiên, khó khăn chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện như hạ tầng kỹ thuật tại nhiều địa phương còn thiếu đồng bộ. Kết nối, chia sẻ dữ liệu chưa thông suốt và nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao còn thiếu.
Đặc biệt, thời gian qua xuất hiện tình trạng một số doanh nghiệp can thiệp, làm sai lệch dữ liệu quan trắc tự động, cho thấy vẫn còn lỗ hổng trong kiểm soát kỹ thuật, bảo mật dữ liệu và chế tài xử lý.
Vì vậy, định hướng sửa đổi trong luật sẽ tập trung tăng cường tính minh bạch và toàn vẹn của dữ liệu quan trắc. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... trong giám sát tự động. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, hậu kiểm, chế tài xử lý đối với các hành vi gian lận dữ liệu môi trường.
Cần cơ chế kiểm soát môi trường liên vùng
Các đại biểu khẳng định những nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đều là các vấn đề lớn, có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn tới và cho rằng cần làm rõ cơ chế phối hợp liên vùng, liên tỉnh trong kiểm soát ô nhiễm môi trường.
* Đại biểu Quốc hội TRỊNH THỊ TÚ ANH (thành viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường):
Giải bài toán dòng sông ô nhiễm chảy qua nhiều địa phương

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, khi xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trách nhiệm thường bị chia cắt giữa nhiều cơ quan như tài nguyên môi trường, xây dựng, công thương, nông nghiệp, khu công nghiệp, cấp huyện (cũ), cấp xã... nên cuối cùng rất khó xác định ai là người chịu trách nhiệm chính.
Trong khi đó, chủ tịch UBND tỉnh là người có đầy đủ thẩm quyền điều phối phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, cấp phép đầu tư, quản lý quy hoạch, quản lý khu công nghiệp và huy động hệ thống thanh tra, kiểm tra. Vì vậy, việc gắn trách nhiệm người đứng đầu là phù hợp với nguyên tắc quyền hạn phải đi liền với trách nhiệm. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy "quản lý theo sự vụ" sang quản trị môi trường theo hướng chủ động dự báo, phòng ngừa và chịu trách nhiệm đến cùng.
Cũng cần thấy rõ nếu địa phương được trao quyền nhiều hơn nhưng không có cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng rất dễ dẫn đến tình trạng chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, thu hút đầu tư nhưng buông lỏng môi trường. Thời gian qua đã có những bài học đắt giá về ô nhiễm sông ngòi, không khí, rác thải, khai thác tài nguyên thiếu kiểm soát, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân và chất lượng phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, quy định này muốn khả thi thì cần làm rõ thế nào là "để xảy ra ô nhiễm". Cần phân biệt giữa ô nhiễm do yếu tố khách quan, tồn đọng lịch sử với ô nhiễm do buông lỏng quản lý, bao che vi phạm hoặc thiếu kiểm tra, giám sát.
Bên cạnh đó, khi đã quy trách nhiệm cao hơn cho địa phương cũng phải tăng công cụ quản lý cho địa phương. Nhiều tỉnh hiện nay thiếu nhân lực chuyên môn môi trường, thiếu hệ thống quan trắc hiện đại, thiếu ngân sách xử lý chất thải và đặc biệt thiếu cơ chế phối hợp liên vùng. Có những dòng sông chảy qua nhiều địa phương, ô nhiễm phát sinh từ nơi này nhưng hậu quả lại ở nơi khác. Nếu không có cơ chế phối hợp vùng thì rất khó quy trách nhiệm công bằng.
Tôi đề nghị bổ sung cơ chế công khai dữ liệu môi trường theo thời gian thực để người dân, báo chí và doanh nghiệp cùng giám sát. Về lâu dài, điều quan trọng nhất vẫn là thay đổi tư duy phát triển. Không thể tiếp tục đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn. Một địa phương có thể tăng GDP nhanh trong vài năm, nhưng nếu để ô nhiễm kéo dài thì chi phí y tế, suy giảm chất lượng sống, mất tài nguyên và mất niềm tin của người dân sẽ lớn hơn rất nhiều. Chính vì vậy, việc siết trách nhiệm người đứng đầu không chỉ là chế tài hành chính mà còn là thông điệp về mô hình phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
* Ông NGUYỄN QUANG HUÂN (Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Halcom Việt Nam):
Phù hợp thực tiễn, nhất là TP.HCM và Hà Nội

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 tập trung sửa đổi nhiều nội dung quan trọng như đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, quản lý chất lượng không khí, quản lý chất thải, kiểm kê khí nhà kính, thị trường carbon và chuyển đổi số trong lĩnh vực môi trường.
Trong đó, việc bổ sung quy định về dự báo, cảnh báo ô nhiễm không khí và cho phép địa phương áp dụng các biện pháp điều tiết phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch theo mức phát thải. Hướng đi phù hợp với thực tiễn, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM đang có xu hướng gia tăng, gây bức xúc trong dư luận, nhân dân.
Tuy nhiên, cần làm rõ cơ chế phối hợp liên vùng, liên tỉnh trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Bởi thực tế ô nhiễm không khí hiện nay đã vượt qua ranh giới hành chính, do đó cần có các quy định để phối hợp xử lý.
Bên cạnh đó, cần xây dựng khung xác định cấp độ ô nhiễm, các kịch bản ứng phó khẩn cấp tương ứng, bảo đảm tính chủ động và kịp thời. Cùng với đó, cũng cần bổ sung thêm quy định về quản lý thiết bị và số liệu quan trắc môi trường, trong đó có quy trách nhiệm cho cơ quan quản lý về vấn đề này.
Dự thảo cũng đề xuất xe tải sử dụng động cơ diezen khi tham gia giao thông phải lắp đặt thiết bị giám sát phát thải khí thải theo quy định của Chính phủ.
Quy định này bên cạnh mặt tích cực nếu áp dụng cũng có thể gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân; đồng thời cũng gây khó cho cơ quan quản lý, bởi các xe ô tô hiện đã phải đăng kiểm theo định kỳ. Vì vậy, nên nghiên cứu nâng tiêu chuẩn khí thải hoặc rút ngắn chu kỳ đăng kiểm về vấn đề khí thải để đạt hiệu quả quản lý cao hơn.
Điểm mấu chốt của lần sửa đổi này là phải nâng cao tính thực thi của luật. Nếu sửa đổi luật làm rõ được thẩm quyền, quy trình và trách nhiệm của từng cấp, đặc biệt là cấp xã sau khi sáp nhập thì hiệu quả quản lý sẽ được nâng lên rõ rệt. Đồng thời, các quy định cần được thiết kế theo hướng dễ áp dụng, có tiêu chí cụ thể, tránh cách hiểu khác nhau giữa các địa phương...








