Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm viên chức. Nghị định quy định về nguyên tắc, danh mục vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm, việc xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, phê duyệt, điều chỉnh danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Nguyên tắc xác định vị trí việc làm
Nghị định quy định rõ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm phải bảo đảm việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung theo quy định của Chính phủ.
Bảo đảm mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng.
Bảo đảm việc cụ thể hóa nội dung công việc của vị trí việc làm theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thực hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm mới.
Bảo đảm việc phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không được sử dụng để hình thành vị trí việc làm mới.
Đối với vị trí việc làm quản lý, mỗi chức danh quản lý chỉ tương ứng với một vị trí việc làm. Trường hợp có từ hai cấp phó trở lên, việc phân công phụ trách từng lĩnh vực không làm phát sinh thêm vị trí việc làm hoặc thay đổi tên gọi vị trí đã được xác định.

Quy định về vị trí việc làm viên chức áp dụng từ 1/7 (Ảnh: Hữu Thắng).
Bên cạnh đó, vị trí việc làm quản lý phải gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách. Đây cũng là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu năng lực cũng như thực hiện các chế độ, chính sách đối với viên chức.
Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong toàn đơn vị. Việc phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng viên chức chỉ là sự điều chỉnh trong quá trình tổ chức thực hiện, không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.
Theo Nghị định, danh mục vị trí việc làm viên chức được chia thành 3 nhóm gồm: vị trí việc làm quản lý, vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ.
Nghị định yêu cầu không được phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục khung do Chính phủ ban hành; không được đổi tên, chia tách hoặc gộp các vị trí việc làm đã quy định.
Đối với trường hợp một vị trí việc làm đồng thời xuất hiện trong danh mục chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục hỗ trợ, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định việc áp dụng trên cơ sở nhiều tiêu chí như mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị; tính chất của sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành và vai trò trong quy trình cung cấp dịch vụ công.
Riêng những ngành, lĩnh vực đã có quy định riêng về danh mục vị trí việc làm theo pháp luật chuyên ngành thì tiếp tục thực hiện theo các quy định chuyên ngành đó.
Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm
Bên cạnh đó, mỗi vị trí việc làm được xác định từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là thấp nhất và bậc 5 là cao nhất.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, từng đơn vị sự nghiệp công lập sẽ xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí nhưng không được vượt quá số bậc quy định trong danh mục vị trí việc làm.
Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và yêu cầu công việc. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp không đồng nghĩa với thay đổi vị trí việc làm mà chỉ là căn cứ để xếp lương và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định.
Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức tiếp tục áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.
Cụ thể, bậc 1 áp dụng lương loại B; bậc 2 áp dụng lương loại A0; bậc 3 áp dụng lương loại A1; bậc 4 áp dụng lương loại A2.1; bậc 5 áp dụng lương loại A3.1.
Nghị định cũng quy định cụ thể tỉ lệ viên chức được bố trí theo từng bậc nghề nghiệp. Với vị trí có bậc cao nhất là bậc 5, tỉ lệ viên chức ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng biên chế của vị trí; bậc 4 không vượt quá 40%; các bậc còn lại do đơn vị xác định.
Đối với vị trí có bậc cao nhất là bậc 4, tỉ lệ viên chức ở bậc 4 không vượt quá 40%. Trường hợp vị trí chỉ có hai bậc nghề nghiệp thì tỉ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50%.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.
Huyền Linh








