Lúa trúng mùa, lợi nhuận kém vui
Những ngày đầu tháng 4/2026, tại các vùng Đồng Tháp Mười (thuộc Tây Ninh) không khí thu hoạch vụ lúa Đông Xuân 2025-2026 diễn ra khẩn trương. Trên các cánh đồng trải dài, máy gặt đập liên hợp hoạt động liên tục, nông dân tranh thủ thu hoạch lúa khi thời tiết đang thuận lợi.
Theo số liệu của Chi cục Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và Môi trường thông tin, toàn tỉnh gieo sạ hơn 278.000ha lúa Đông Xuân 2025-2026, đạt hơn 96% kế hoạch. Diện tích thu hoạch hơn 53.000ha, năng suất lúa ước đạt 6,64 tấn/ha, sản lượng ước đạt hơn 352.000 tấn.
Vụ Đông Xuân năm nay được đánh giá là "trúng mùa" khi năng suất cao hơn so với kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, niềm vui trúng mùa lại không trọn vẹn khi giá lúa có xu hướng giảm mạnh so với đầu vụ.

Vụ lúa Đông Xuân 2025–2026 đạt năng suất cao.
Ghi nhận PV, ngày 2/4 cho thấy, giá lúa tươi các loại phổ biến được thương lái thu mua như OM 18 và Đài thơm 8 chỉ dao động từ 5.600–5.750 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.400–5.500 đồng/kg; IR 50404 khoảng 5.200–5.300 đồng/kg, còn OM 34 chỉ từ 5.100–5.200 đồng/kg. So với thời điểm giữa tháng 3, mức giá này đã giảm đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng lúa.
Gia đình anh Lê Văn Đại (ngụ xã Tân Hưng) hiện có khoảng 3 ha lúa OM 18 chuẩn bị thu hoạch. Dù năng suất ước đạt khoảng 8 tấn/ha, nhưng với giá bán hiện tại, sau khi trừ các chi phí như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công thu hoạch, lợi nhuận chỉ còn khoảng 10–12 triệu đồng/ha.
"Nếu so với công sức bỏ ra thì mức lãi này khá thấp. Những hộ thuê đất sản xuất với chi phí khoảng 20 triệu đồng/ha gần như không có lời, thậm chí lỗ", anh Đại chia sẻ.
Bên cạnh áp lực giá bán, chi phí đầu vào tăng cao cũng đang trở thành nỗi lo lớn của người trồng lúa. Bà Phạm Thị Tú (ngụ xã Hưng Điền) cho biết, vụ Đông Xuân năm nay dù năng suất khá nhưng chi phí sản xuất lại "đội" lên đáng kể so với những năm trước.
"Giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đều tăng, chưa kể chi phí thuê nhân công, thu hoạch và vận chuyển cũng cao hơn. Trong khi đó, giá lúa lại giảm xuống so với đầu vụ nên lợi nhuận bị co lại rất nhiều. Nông dân tụi tôi làm cực nhưng lời không bao nhiêu", bà Tú chia sẻ.
Theo bà Tú, chỉ riêng chi phí thu hoạch và vận chuyển hiện đã dao động từ 2,5–2,7 triệu đồng/ha, tăng đáng kể do giá nhiên liệu leo thang. Nếu cộng thêm các khoản chi cho vật tư nông nghiệp, tổng chi phí sản xuất mỗi hecta đã tăng mạnh, khiến nhiều hộ rơi vào cảnh "lấy công làm lời", thậm chí có nguy cơ thua lỗ nếu giá lúa tiếp tục giảm.
Không chỉ nông dân, các chủ máy gặt đập cũng chịu áp lực chi phí. Anh Đỗ Văn Hữu (chủ máy gặt tại xã Thạnh Phước) cho biết, giá nhiên liệu tăng cao khiến chi phí vận hành đội lên đáng kể.
"Giá dầu hiện hơn 35.000 đồng/lít, mỗi hecta tiêu tốn khoảng 20 lít dầu. Để duy trì hoạt động, chúng tôi buộc phải thương lượng tăng giá gặt với nông dân, nhưng điều này lại khiến chi phí sản xuất của bà con tăng thêm", anh Hữu nói.

Chi phí thu hoạch, vận chuyển và vật tư nông nghiệp tăng cao.
Vụ lúa Đông Xuân 2025 – 2026, theo Phó Chủ tịch UBND xã Tân Hưng Nguyễn Cao Đẳng, nông dân xã Tân Hưng gieo sạ trên 7.000 hecta, đạt 98,42% kế hoạch đề ra. Hiện tại nông dân đang bước vào thu hoạch rộ với năng suất đạt khá cao, tuy nhiên, thời điểm này nông dân rất lo lắng vì giá lúa đang xuống thấp, trong khi khi chi phí sản xuất tăng cao.
Theo số liệu thống kê của UBND xã Tân Hưng, hiện nông dân trên địa bàn xã đã thu thu hoạch trên 700 hecta lúa đông xuân 2025 – 2026, tập trung nhiều ở ấp Gò Thuyền. Vào giữa tháng 3 vừa qua, giá lúa được thương lái thu mua tại ruộng từ 6.000 đồng đến 7.900 đồng/kg, với năng suất từ 06 đến 09 tấn/hecta, nông dân có lợi nhuận từ 15 đến 40 triệu đồng/hecta.
Nhiều hộ dân cho biết, nếu giá lúa tiếp tục giảm hoặc chi phí tăng thêm, sản xuất lúa sẽ rơi vào tình trạng "làm nhiều, lời ít", thậm chí thua lỗ.
Nguồn cung lớn, áp lực tiêu thụ gia tăng
Hiện tại, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào cao điểm thu hoạch lúa Đông Xuân, khiến nguồn cung lúa gạo trong nước tăng mạnh. Trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dồi dào, giá gạo xuất khẩu giảm đã kéo mặt bằng giá lúa trong nước đi xuống.
Theo báo cáo của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), năm 2026, diện tích lúa gieo trồng trên cả nước ước đạt 7,06 triệu ha, sản lượng ước đạt 43,55 triệu tấn. Trong đó, vụ đông xuân 2025-2026, gieo trồng gần 3 triệu ha, dự kiến sản lượng trên 20 triệu tấn.
Tại vùng trọng điểm là ĐBSCL và tỉnh Tây Ninh, diện tích xuống giống vụ đông xuân 2025-2026 đạt trên 1,5 triệu ha, ước sản lượng gần 11 triệu tấn.
Với sản lượng trên, lãnh đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, sau khi cân đối nhu cầu an ninh lương thực trong nước, chế biến, dữ trữ, lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu năm 2026 khoảng 7,73 triệu tấn. Trong đó, 6 tháng đầu năm dự kiến xuất khoảng 4,014 triệu tấn và 6 tháng cuối là 3,716 triệu tấn.
Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Đỗ Hà Nam cho biết, giá gạo 5% tấm của Việt Nam hiện chỉ ở mức hơn 350 USD/tấn, giảm so với trước. Nguyên nhân chủ yếu do các thị trường truyền thống như Indonesia, Malaysia, Philippines có xu hướng hạn chế nhập khẩu khi tăng cường dự trữ trong nước.

Dù trúng mùa với năng suất nhiều nơi đạt 8–10 tấn/ha, nhưng giá lúa giảm khiến lợi nhuận của nông dân bị thu hẹp.
Ngoài ra, biến động địa chính trị, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, đã làm gián đoạn vận chuyển, đẩy chi phí logistics tăng, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu không chỉ ở khu vực này mà còn lan sang các thị trường khác.
Ở góc độ thị trường, Phó Vụ trưởng Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công thương) Ngô Chung Khanh nhận định, các cam kết về gạo trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) cho thấy mức độ mở cửa thị trường rất lớn. Với Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), EU dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo mỗi năm cho Việt Nam với thuế suất 0%.
Tương tự, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA) cũng dành hạn ngạch 13.358 tấn với thuế suất 0%, phân bổ theo từng chủng loại gạo.
Với Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một số thị trường cũng mở cửa đáng kể, như Mexico áp dụng thuế suất 0% cho gạo hay Canada duy trì mức thuế 0% nhưng có yêu cầu kỹ thuật riêng.
Tuy nhiên, thị phần gạo Việt Nam tại các thị trường FTA hiện vẫn còn rất thấp. Cụ thể, tại Canada, thị phần chỉ đạt 2,7%; tại EU 1,5%; tại Anh 1,3% và tại Mexico chỉ 0,2%. Trong khi đó, Thái Lan chiếm tới 23,9% tại Canada; 5,2% tại EU; 4,6% tại Anh và 17% tại Mexico. Thị phần gạo Ấn Độ tại các thị trường này cũng ở mức cao, nhất là tại Anh với 26,7%.
Theo các chuyên gia, để tận dụng hiệu quả các FTA, doanh nghiệp xuất khẩu cần nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và tăng cường truy xuất nguồn gốc.
Việc đa dạng hóa thị trường cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, ổn định đầu ra trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.








