TP Hồ Chí Minh mở rộng không gian phát triển, chuyển từ đô thị trung tâm sang siêu đô thị vùng, tạo động lực tăng trưởng mới cho phía Nam.
Không gian phát triển mới
TP Hồ Chí Minh đang bước qua một ngưỡng phát triển có tính lịch sử. Trong nhiều thập niên, thành phố giữ vai trò "đầu tàu" kinh tế quốc gia, là trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, giáo dục, y tế và quản trị doanh nghiệp. Nhưng mô hình đô thị trung tâm, dồn nén quá nhiều chức năng vào một lõi phát triển, đã bộc lộ giới hạn. Đất đai trung tâm ngày càng khan hiếm, hạ tầng quá tải, chi phí sinh hoạt tăng, logistics bị nghẽn, trong khi dân cư, sản xuất và dịch vụ liên tục lan ra ngoài ranh giới hành chính cũ.
Nhiều chuyên gia cho rằng, TP Hồ Chí Minh hiện tại không chỉ mở rộng về quy mô đơn thuần, mà là tái cấu trúc không gian phát triển để trở thành hạt nhân của một siêu đô thị vùng. TP Hồ Chí Minh không chỉ là một đô thị riêng lẻ, mà là trung tâm tổ chức các dòng chảy vốn, lao động, hàng hóa, công nghệ và dịch vụ của toàn vùng phía Nam.

Nhiều chuyên gia cho rằng, TP Hồ Chí Minh hiện tại không chỉ mở rộng về quy mô đơn thuần, mà là tái cấu trúc không gian phát triển để trở thành hạt nhân của một siêu đô thị vùng
Sự mở rộng ấy càng rõ nét sau bước ngoặt hợp nhất TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu thành TP Hồ Chí Minh mới, chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025. Cấu trúc mới tạo nên một không gian đô thị - công nghiệp - cảng biển. Theo đó, vùng lõi TP Hồ Chí Minh cũ giữ vai trò tài chính, dịch vụ, tiêu dùng và quản trị; Bình Dương đóng vai trò nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn; Bà Rịa - Vũng Tàu mở ra cửa ngõ cảng biển, logistics, dầu khí, du lịch biển và kết nối quốc tế. Thành phố mới, vì thế, không chỉ cộng gộp địa giới, mà cộng gộp năng lực cạnh tranh vùng.
Về kinh tế đô thị, đây là chuyển đổi từ mô hình "một lõi quá tải" sang mô hình "đa cực, đa trung tâm". Trung tâm hiện hữu tiếp tục đảm nhiệm vai trò tài chính, thương mại, văn hóa và quản trị; Thủ Đức là cực đổi mới sáng tạo, giáo dục đại học, công nghệ cao và kinh tế tri thức; khu Bắc - Tây Bắc mở dư địa cho đô thị công nghiệp, logistics, nông nghiệp công nghệ cao; khu Nam - Đông Nam gắn với cảng biển, kinh tế biển, du lịch sinh thái và chuỗi đô thị ven biển. Nếu được tổ chức tốt, cấu trúc này sẽ giảm áp lực lên lõi cũ, đồng thời tạo ra các "điểm nén tăng trưởng" mới thay vì để đô thị lan tỏa tự phát.
Động lực lớn nhất của siêu đô thị vùng không nằm ở diện tích lớn hơn, mà ở hiệu ứng tích hợp. Nhà đầu tư không chỉ nhìn vào một khu đất, một dự án hay một khu công nghiệp, mà nhìn vào toàn bộ hệ sinh thái: cảng biển, sân bay Long Thành, vành đai, cao tốc, metro, nguồn nhân lực, thị trường tiêu dùng, trường đại học, bệnh viện, khu đô thị và chất lượng sống. Khi các yếu tố này được kết nối trong một không gian quản trị thống nhất, chi phí giao dịch giảm, tốc độ luân chuyển hàng hóa tăng, khả năng thu hút vốn dài hạn cao hơn. Đó là logic của những vùng đô thị thành công, TP Hồ Chí Minh không cạnh tranh bằng một trung tâm đơn lẻ, mà bằng mạng lưới đô thị - hạ tầng - dịch vụ.
Thể chế dẫn đường
Tuy nhiên, mở rộng không gian không tự động tạo ra phát triển. Một siêu đô thị có thể trở thành động lực quốc gia, nhưng cũng có thể biến thành một đại đô thị phân mảnh nếu thiếu điều phối. Rủi ro đầu tiên là hạ tầng đi sau đô thị hóa; đường vành đai, metro, đường sắt đô thị liên vùng, cảng cạn, logistics, thoát nước, xử lý rác, cấp nước, nhà ở xã hội đều phải đi trước một bước. Rủi ro thứ hai là cạnh tranh nội vùng, nơi nào cũng muốn làm trung tâm tài chính, trung tâm logistics, trung tâm công nghệ, dẫn tới đầu tư dàn trải. Rủi ro thứ ba là bất bình đẳng không gian, khi trung tâm hưởng dịch vụ cao cấp còn vùng ven gánh nhà ở giá rẻ, khu công nghiệp, ô nhiễm và thiếu tiện ích.
Bởi vậy, chìa khóa của TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới là quản trị vùng, không chỉ là quy hoạch đẹp. Thành phố cần cơ chế đủ mạnh để phân vai chức năng giữa các cực phát triển, ưu tiên vốn cho hạ tầng chiến lược, kiểm soát phát triển bất động sản theo giao thông công cộng và bảo đảm nơi nào có khu công nghiệp, khu logistics, khu đô thị mới thì nơi đó phải có nhà ở công nhân, trường học, y tế, không gian xanh và giao thông công cộng tương ứng.

Thành phố được kỳ vọng sẽ tăng trưởng bằng một cấu trúc mới; đa trung tâm, liên vùng, gắn sản xuất với dịch vụ, gắn đô thị với cảng biển - sân bay - công nghiệp - đổi mới sáng tạo, và gắn tăng trưởng với chất lượng sống.
Đây cũng là lý do yêu cầu về một Luật Đô thị đặc biệt cho TP Hồ Chí Minh trở nên cấp thiết. TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhận định vấn đề của siêu đô thị TP Hồ Chí Minh không phải thiếu nguồn lực, mà thiếu một thể chế tương thích để giải phóng nguồn lực đó. Cụ thể, Luật Đô thị đặc biệt không chỉ là hoàn thiện pháp lý, mà là thiết kế một mô hình thể chế mới, đặt TP Hồ Chí Minh đúng vai trò cực tăng trưởng và trung tâm kết nối toàn cầu. Luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo được một "hệ điều hành" mới cho đô thị, dựa trên năm trụ cột. Bao gồm chính quyền đô thị đặc biệt, phân quyền thực chất, tài chính - ngân sách đặc thù, cơ chế thử nghiệm đổi mới, cùng kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Chuyên gia kinh tế, PGS.TS Trần Hoàng Ngân cũng chỉ rõ, TP Hồ Chí Minh đã có nhiều nghị quyết tháo gỡ điểm nghẽn như Nghị quyết 54 năm 2017, Nghị quyết 98 năm 2023 với 44 cơ chế, chính sách đặc thù cho 7 lĩnh vực, và Nghị quyết 260 năm 2025. Nhưng các cơ chế này vẫn mang tính ngắn hạn. Thành phố cần một thể chế ổn định lâu dài để khai thác các động lực tăng trưởng sau hợp nhất, sáp nhập giữa ba địa phương. Các chuyên gia khẳng định, siêu đô thị không thể vận hành bằng tư duy quản lý của một địa phương thông thường.
GS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, nhìn vấn đề ở tầm quốc gia khi cho rằng đầu tư cho TP Hồ Chí Minh chính là đầu tư cho cả nước. Ông Khương kỳ vọng thành phố hội tụ "Hy vọng - Hội nhập - Hợp lực", đồng thời đề xuất năm kênh kiến tạo gồm định vị phát triển, liên kết vùng, phát huy nội lực, nâng cấp cơ cấu kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI.
TP Hồ Chí Minh vì thế không thể tiếp tục phát triển bằng cách nén thêm dân cư, xe cộ, nhà cao tầng và dịch vụ vào lõi đô thị cũ. Thành phố được kỳ vọng sẽ tăng trưởng bằng một cấu trúc mới: đa trung tâm, liên vùng, gắn sản xuất với dịch vụ, gắn đô thị với cảng biển - sân bay - công nghiệp - đổi mới sáng tạo, và gắn tăng trưởng với chất lượng sống. Từ đô thị trung tâm đến siêu đô thị vùng, TP Hồ Chí Minh không chỉ là nơi tạo ra GDP lớn nhất, mà còn là bộ máy tổ chức phát triển của toàn vùng phía Nam.
TP Hồ Chí Minh tăng trưởng mạnh sau hợp nhất
Năm 2025, GRDP TP Hồ Chí Minh ước tăng 8,03%, quy mô đạt 2,74 triệu tỷ đồng, chiếm 23,5% GDP cả nước; thu ngân sách ước đạt 748.438 tỷ đồng, FDI đạt 8,16 tỷ USD, tăng 21,1%. Quý I/2026, GRDP tăng 8,27%, mức cao nhất trong 5 năm; dịch vụ tăng 8,91%, đóng góp 56% vào mức tăng GRDP; vận tải - kho bãi tăng 12,18%, cho thấy vai trò ngày càng lớn của logistics. Vốn FDI quý I/2026 ước gần 2,9 tỷ USD, tăng hơn 200% so với cùng kỳ của 3 địa phương cũ. Ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó trưởng Phòng Chính sách tổng hợp, Sở Tài chính TP HCM, nhận định kết quả này thể hiện khả năng chống chịu tốt của thành phố trước biến động thế giới.








