Bước tới đèo Ngang bóng xế tà - Kỳ 4: Mật độ thơ ca nhiều nhất Việt Nam

08/06/2026 16:35

Dường như khi đến đèo Ngang, không ai không nghĩ đến tuyệt tác thơ của Bà Huyện Thanh Quan khắc họa tinh tế nỗi cô đơn chống chếnh trước bức tranh thiên nhiên đượm buồn cung đèo lúc chiều tà cùng nỗi niềm yêu nước thương nhà của nữ sĩ.

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà - Kỳ 4: Mật độ thơ ca nhiều nhất Việt Nam - Ảnh 1.

Hoành Sơn Quan - chốt chặn quan trọng trên đường Thiên lý Bắc - Nam chụp đầu thế kỷ XX - Ảnh tư liệu

"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà/ Cỏ cây chen đá lá chen hoa/ Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên song chợ (rợ) mấy nhà…".

Nơi dừng chân Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Không chỉ là một địa danh địa lý hay "yết hầu" quân sự hiểm yếu, đèo Ngang đã đi vào tâm thức người Việt như một chốn dừng chân đầy "ám ảnh" giữa mây ngàn và biển cả.

Ở đó mỗi phiến đá rêu phong, mỗi ngọn gió biển thổi từ Mũi Đao, Mũi Độc đều dường như mang theo hơi thở của những huyền thoại và tiếng lòng của các bậc đế vương, thi sĩ qua nhiều hệ tiếp nối.

Đèo Ngang chính là nốt trầm xao xuyến nhất trên con đường thiên lý Bắc - Nam, nơi cảm xúc văn chương và niềm tin tâm linh hòa quyện thành một không gian di sản đa lớp.

Bước chân xuống chân đèo Ngang phía xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị, lữ khách sẽ gặp đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh - một không gian tâm linh linh thiêng đã tồn tại qua bao thế kỷ. Ngôi đền có tên chữ là Hoành Sơn Linh Từ, tọa lạc trong thế đất hài hòa giữa núi và nước: lưng tựa dãy Hoành Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra hồ Quảng Đông phẳng lặng.

Trong tâm thức dân gian, đèo Ngang không chỉ là ranh giới hành chính mà còn là chốn dừng chân của Mẫu Liễu Hạnh - một trong "Tứ bất tử" của Việt tộc. Huyền thoại kể rằng công chúa Quỳnh Hoa vì nặng lòng trần thế đã nhiều lần giáng phàm để cứu độ chúng sinh.

Trong một lần giáng thế tại đèo Ngang, giữa vùng đất biên viễn vốn hoang vu và thưa thớt dấu chân người, bà đã hóa thân mở một quán nước bên đường thiên lý. Không chỉ bán nước, bà còn giúp dân trừ dịch bệnh, xua đuổi thú dữ và dạy cách trồng lúa, dệt vải.

Sự hiện diện của Mẫu trong ba năm lưu lại trần gian đã "thiêng hóa" vùng đất này, biến nơi đây từ miền "lam chướng nặng nề" thành chốn bình an, sầm uất cho lữ khách và người dân đi khai hoang, mở cõi.

Đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Bảo Đàn nhận xét, ngôi đền hiện lên với vẻ "trầm mặc, cổ kính... xen chút thâm u, huyền bí của chốn thần linh trong cảm nhận của người trần".

Hoành Sơn Linh Từ không chỉ là điểm tựa tinh thần cho khách bộ hành trước khi đối mặt với hành trình vượt đèo gian nan mà còn phản ánh sự giao thoa giữa quyền lực nhà nước và niềm tin dân gian trong việc kiến tạo không gian di sản.

"Mật độ thi ca" dày đặc

Năm 2000, trong quá trình mở rộng quốc lộ 1A qua đỉnh đèo Ngang, việc đào đắp của những người thợ làm xuất lộ tấm bia bằng đá thanh chạm khắc tuyệt hảo, nội dung văn bia khắc bài thơ Quá Hoành Sơn Quan của Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị).

Vị quân vương/thi sĩ, trong chuyến Bắc hành năm 1842, khi qua cung đèo mang dấu ấn đặc biệt với triều đại đã cảm hứng thành thơ ca ngợi vẻ đẹp và vị thế xung yếu của cửa ải.

Nhà vua cho khắc dựng bia đá làm văn vật lưu truyền hậu thế: "Hoành Sơn một dải núi ngăn đôi/ Uốn lượn nhấp nhô cạnh biển khơi/ Đồn trấn Bắc Nam chia dải cõi/ Ải nghiêm kim cổ trải bao đời…".

Thiệu Trị là một trong số muôn ức tao nhân kim cổ làm thơ về đèo Ngang và đây có lẽ là địa danh có mật độ thi ca dày đặc nhất trong dòng chảy văn học Việt Nam. Từ các bậc thiên tử đến giới văn nhân, hễ đặt chân đến "cổng trời" này đều không thể kìm lòng mà để lại những tuyệt bút, thành nên di sản hàng trăm bài thơ của lớp lớp tác giả.

Ngược dòng về thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông trong chuyến Nam chinh đã dừng ngựa tại đây và cảm tác bài thơ Xích mộ Hải môn lữ thứ (hay Di luân Hải môn lữ thứ).

Nhà vua nhìn thấy từ đỉnh Hoành Sơn cả một vùng di luân xa tít, nơi quyền lực của thiên tử được khẳng định qua tầm nhìn bao quát giang sơn: "Lênh đênh Xích mộ mơ màng/ Non xanh nước biếc xốn xang nhớ nhà...".

Đây không chỉ là thơ tả cảnh mà còn là ý thức về chủ quyền lãnh thổ của một vị minh quân vừa mở mang bờ cõi.

Đến thời Nguyễn, hình ảnh đèo Ngang trở nên bất hủ qua thơ Bà Huyện Thanh Quan. Với tác phẩm Qua đèo Ngang, nữ sĩ đã biến cảnh sắc thực tại thành một bức tranh tâm trạng đầy hoài cổ.

Dường như câu thơ "Dừng chân đứng lại trời non nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta" đã trở thành tiếng lòng chung của người Việt, khắc họa sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ bao la và nỗi niềm cố hương sâu thẳm.

Bên cạnh đó, khí phách của Cao Bá Quát cũng lộng gió trên đỉnh đèo qua những vần thơ phóng khoáng: "Sáng lên đứng Hoành Sơn/ Chiều xuống tắm Bàn Thạch/ Nhặt đá cầm trong tay/ Non sông chưa đầy vốc".

Hoành Sơn trong mắt các nhà Nho không chỉ là ranh giới địa lý mà còn là địa danh tâm linh, nơi hội tụ những trăn trở về thân phận và lẽ sống chết của dân tộc…

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà - Kỳ 4: Mật độ thơ ca nhiều nhất Việt Nam - Ảnh 2.

Dưới chân dãy Hoành Sơn có hàng loạt bãi biển tuyệt đẹp - Ảnh: Hội KHLS Hà Tĩnh cung cấp

Từ "cổng trời" triều đại đến "tọa độ lửa"

Lịch sử đèo Ngang không chỉ có mây bay và thơ phú, mà còn thấm đẫm mồ hôi và máu trong những cuộc kháng chiến vệ quốc. Bước sang thế kỷ 20, từ một quan ải hành chính của triều Nguyễn, Hoành Sơn Quan và đèo Ngang đã chuyển mình trở thành một "tọa độ lửa" khốc liệt trong chiến tranh.

Vì là con đường độc đạo nối liền hai miền, đèo Ngang trở thành trọng điểm ném bom của không quân Mỹ nhằm cắt đứt tuyến chi viện cho miền Nam.

Giữa làn mưa bom bão đạn, hàng ngàn thanh niên xung phong, công binh và bộ đội giao thông vận tải đã bám trụ kiên cường trên những vách đá granit để giữ vững mạch máu giao thông thông suốt.

Địa danh của thi ca khi ấy đã trở thành địa danh chiến tích hòa cùng hồn thơ của đèo Ngang để tạo nên sức mạnh bất khuất.

Trong các cuộc trao đổi thực địa, chúng tôi cảm nhận sâu sắc sự giao thoa văn hóa Việt - Chăm còn lặn sâu trong vùng di sản này.

Dù trải qua hàng ngàn năm Đại Việt hóa, nhưng trong phương ngữ và tập quán của người dân hai bên chân đèo vẫn còn phảng phất những âm hưởng cổ xưa của vùng đất từng là "biên giới động".

Đó là một vùng đệm văn hóa nơi ranh giới hành chính có thể chia đôi nhưng tình cảm và ký ức di sản luôn hòa làm một như câu ca dao: "Trèo đèo hai mái chân vân/ Lòng về Hà Tĩnh dạ ái ân Quảng Bình".

Đứng ở đèo Ngang hôm nay nhìn xuống đôi hầm đường bộ hiện đại xuyên qua lòng núi, ta thấy quá khứ và hiện tại đang quyện hòa vào nhau.

Đèo Ngang mãi mãi là một "ám ảnh văn hóa" đẹp đẽ, nơi lòng yêu nước không chỉ nằm ở những trận đánh mà còn nằm trong từng vần thơ, từng lời khấn nguyện và cả ý chí giữ gìn từng bậc đá cổ dẫn lên "cổng trời" ngàn năm.

"Hoành Sơn đã "dung thân" cho nhiều hơn thế: nó dung thân cho nỗi nhớ nhà của Nguyễn Du, cho khát vọng bá vương của Lê Thánh Tông, cho triết lý siêu thoát của Cao Bá Quát, cho tâm sự thế sự của Nguyễn Khuyến, cho niềm tin thống nhất của Vũ Tông Phan…

Mỗi lần vượt đèo, mỗi lần đối diện với dải núi chắn ngang trời ấy, các nhà Nho lại bộc lộ một lớp tâm tình mới, sâu hơn, quyết liệt hơn.

Nói cách khác, Hoành Sơn không chỉ là một địa danh địa lý mà còn là một địa danh tâm linh, nơi hội tụ của những trăn trở về bờ cõi, về thân phận, về lẽ sống chết của một dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước", trích Hình tượng Hoành Sơn trong thơ văn trung đại - ThS Lê Công Anh, ThS Huỳnh Văn Thắng (giảng viên khoa ngữ văn Trường đại học Khoa học Huế).

-------------------------------

Kỳ tới: Mây mưa đánh đổi cuộc trăm năm

Đọc tiếp Về trang Chủ đề

Bạn đang đọc bài viết "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà - Kỳ 4: Mật độ thơ ca nhiều nhất Việt Nam" tại chuyên mục TIN TỨC. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0987.245.378hoặc gửi về địa chỉ email (info.vstarmedia2018@gmail.com).